Bài mới


Can thiệp có chứng cớ khoa học (Evident based intervention)

đăng 21:57, 11 thg 7, 2017 bởi Giang Phan   [ đã cập nhật 22:59, 11 thg 7, 2017 ]

CAN THIỆP DỰA VÀO CHỨNG CỚ

                                                             BS. Phan Thiệu Xuân Giang


Có rất nhiều liệu pháp dùng để can thiệp tâm lý hay các vấn đề về phát triển. Có những cách can thiệp có tính bài bản, khoa học, có thể quan sát, đo đạc và theo dõi sự tiến triển. Có những cách can thiệp không có khoa học rõ ràng, chủ quan, cảm tính, đang nằm trong nghiên cứu hay thậm chí có thể vô bổ và gây hại. Do nhu cầu và hiểu biết của thân chủ và phụ huynh có khi còn hạn chế về các loại can thiệp chuyên môn, hoang mang, thiếu hướng dẫn của nhà chuyên môn bài bản nên dễ tin những quảng cáo và thông tin thiếu chuyên môn. Nếu không có phản biện khách quan và hiểu biết đầy đủ, khoa học giả tạo hay các hình thức trục lợi sẽ dễ dàng phát triển.

Bài viết này tóm tắt thông tin cơ bản về can thiệp có chứng cớ trong thực hành trị liệu tâm lý và các vấn đề phát triển. 

APA có thể là viết tắt của hiệp hội tâm thần học Hoa Kỳ (www.psychiatry.org) hay hiệp hội tâm lý học Hoa Kỳ (www.apa.org ), trong phần này nói đến hiệp hội tâm lý học Hoa Kỳ.

Với phong trào sử dụng các trị liệu được ủng hộ thực nghiệm, phần 12 trong các nhiệm vụ cần phải thực hiện của APA (tâm lý lâm sàng) đã giới thiệu một nhiệm vụ cần thực hiện nhằm định nghĩa, thúc đẩy và phổ biến các trị liệu tâm lý phù hợp với những tiêu chuẩn khoa học. Nhằm để xem như được thực nghiệm ủng hộ, các phương pháp trị liệu phải được thử nghiệm trong những nghiên cứu mà đạt được các tiêu chuẩn nghi vấn khoa học.

Đầu tiên trị liệu thực nghiệm phải được so sánh với nhóm chứng (Control group) bất kể là không điều trị, giả dược, hay điều trị thay thế.

Thứ hai, các nghiên cứu phải được phân công ngẫu nhiên cho những ứng viên đối với các điều kiện trị liệu do đó mà khuynh hướng chọn lựa không thể làm sai lệch kết quả (Randomized control study, randomized control trial)

Thứ ba, các can thiệp cần phải được thực hiện việc sử dụng một sổ tay điều trị mà mỗi nhà trị liệu bám theo các thủ thuật và nguyên lý của trị liệu đó trong nghiên cứu.

Thứ tư, phải có một dân số được định nghĩa mà nghiên cứu dựa vào, với các tiêu chí chọn lựa rõ ràng sẽ cho phép những nhà nghiên cứu biết được đối với ai thì phương pháp trị liệu đặc hiệu chứng minh là mang lại cải thiện.

Thứ năm, việc đo lường kết quả phải tin cậy và có giá trị hơn là chỉ dựa vào đánh giá chủ quan và chủ nghĩa ấn tượng của nhà trị liệu hay thân chủ.

Thứ sáu, phân tích dữ liệu phải được thực hiện theo cách thức thích hợp và có giá trị.

Tóm lại, mỗi cách trong những thủ thuật này được thiết kế nhằm bảo đảm rằng câu hỏi trong nghiên cứu được thực hiện theo cách thức thực nghiệm.

Nhiệm vụ cần thực hiện được thiết lập theo ba mức ủng hộ thực nghiệm:

Ba mức độ chứng cớ: Có thể có hiệu quả, có hiệu quả, có hiệu quả và chuyên biệt. Mức có hiệu quả chuyên biệt là mức chứng cớ cao nhất, tức là can thiệp đó có hiệu quả rõ ràng, hơn hẳn những can thiệp hay trị liệu khác, có thể theo dõi, đo đạc về mặt khoa học.

Còn nếu mức chứng cớ quá kém như không rõ ràng, không có hiệu quả hay có nguy cơ gây hại thì nên cảnh báo để mọi người biết, tránh nhầm lẫn hay ngộ nhận.

Phải có một bằng chứng nghiên cứu được thiết kế đầy đủ cho thấy sự ưu việt của phương pháp trị liệu trong khi so sánh với điều kiện đối chứng. Để thoả mãn được tiêu chuẩn có hiệu quả cao hơn, tính ưu việt của điều trị phải được chứng tỏ trong ít nhất hai nơi thực nghiệm độc lập. Để thoả mãn được tiêu chuẩn có hiệu quả cao nhất: có hiệu quả và đặc hiệu, can thiệp phải cho thấy có hiệu quả hơn hẳn một điều trị thay thế thực sự được ít nhất hai nhóm những nhà nghiên cứu độc lập.

Mặc dù các tiêu chí tạo ra những tranh cãi tương đối nhưng chúng ngày càng được chấp nhận và nói đến trong tài liệu về tính hiệu quả của tâm lý trị liệu.

Sự khác biệt về văn hoá, chủng tộc và các can thiệp:

Sự khác biệt về văn hoá trong tâm bệnh học: Các rối loạn đặc biệt có thể lưu hành nhiều hơn trong các nhóm chủng tộc đặc biệt, có thể là do những đặc tính của những vấn đề xã hội, các thực hành văn hoá xã hội, hay các định nghĩa đặc hiệu theo tính văn hoá về thế nào là bình thường, thế nào là tâm bệnh lý. Ví dụ, thù hằn và định kiến đi kèm với chủ nghĩa phân biệt chủng tộc có thể làm gia tăng nguy cơ bị rối loạn cư xử ở trẻ em người Mỹ gốc Phi. Stress đi kèm với nhập cư có thể làm gia tăng nguy cơ lo âu ở trẻ em tị nạn vùng Đông Dương. Mất mát lập đi lập lại đi kèm với tỷ lệ chết cao và chuyển chỗ trong gia đình có thể làm khởi phát trầm cảm ở thanh niên thổ dân Mỹ. Mặt khác niềm tin của cha mẹ về tính xã hội hoá và hành vi đúng của trẻ có thể dẫn đến sự khác biệt về văn hoá trong tỷ lệ của những rối loạn. Ví dụ như ở Thailand, nơi mà nền văn hoá khuyến khích sự kềm nén, tôn trọng và bình an, trẻ được gửi đi khám vì những vấn đề nội hoá nhiều hơn. Ngược lại, ở Mỹ, nơi mà sự độc lập, cạnh tranh được khuyến khích, tỷ lệ trẻ được gửi đi khám vì có những vấn đề ngoại hoá nhiều hơn.

Sự khác biệt về văn hoá trong điều trị:

Liên quan đến cả hai: Khả năng tiếp cận và hiệu quả. Ví dụ, những gia đình có thu nhập thấp trong chủng tộc thiểu số ít tìm kiếm sự trợ giúp từ những nhà chuyên môn về sức khoẻ tâm thần hơn, đặc biệt là những cơ quan không quen thuộc của một nền văn hoá chiếm đa số và đội ngũ các nhà chuyên môn. Ngoài ra nghiên cứu cho thấy rằng một khi họ được điều trị, những gia đình dân tộc thiểu số thường bỏ cuộc, thông thường là ngay sau cuộc trị liệu đầu tiên. Vì thế, điều trị có thể tiếp cận được và đáp ứng đối với các thân chủ là dân tộc thiểu số là điều quan trọng. Hơn nữa, các kỹ thuật có hiệu quả trong một nền văn hoá chưa chắc đã “phù hợp” với nền văn hoá khác. Ví dụ như nhà trị liệu hành vi khi làm việc với những gia đình người Hoa báo lại rằng những niềm tin văn hoá về cách thức nuôi dưỡng của cha mẹ và cấu trúc của gia đình tạo ra sự đề kháng có ý nghĩa từ những cha mẹ người Hoa là những người được yêu cầu chơi với trẻ hay phớt lờ ngẫu nhiên trẻ.

Sự khác biệt về văn hoá trong kiến thức: Xuất hiện khi người làm lâm sàng và thân chủ đến từ những nền tảng văn hoá khác nhau. Sự yếu kém về kiến thức văn hoá như vậy sẽ xuất hiện không chỉ trong hoạt động của hầu hết các nhà chuyên môn về sức khoẻ tâm thần mà còn thiếu sự chú ý đến những khác biệt ở đối tượng và gia đình trong các tài liệu lâm sàng và nghiên cứu. Kết quả là, nếu nhà trị liệu chỉ hiểu biết về chính nền văn hoá của mình, họ sẽ dễ hiểu nhầm và thậm chí tâm bệnh lý hoá những thực hành và giá trị bình thường có liên quan đến nền văn hóa khác.

Nguồn tham khảo:

1) Developmental psychopathology, Patricia K. Kerig & Amada Ludlow, 2015

2) www.apa.org

 

THEO DÕI VÀ SÀNG LỌC VỀ PHÁT TRIỂN

đăng 20:13, 17 thg 8, 2016 bởi Giang Phan   [ đã cập nhật 20:20, 17 thg 8, 2016 ]

  Hiệp hội Nhi Khoa của Mỹ (AAP), tháng 7/ 2006

Xác định sớm những rối loạn phát triển là điều rất quan trọng cho sự khỏe mạnh của trẻ và gia đình.. Đây là một chức năng không thể thiếu đối  các tuyến y tế chăm sóc sức khỏe ban đầu và một trách nhiệm phù hợp với tất cả các nhà chuyên môn chăm sóc sức khỏe trẻ em. Xem tiếp...

CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ, YẾU TỐ TIÊN LƯỢNG ĐỐI VỚI RỐI LOẠN HỌC TẬP VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC THẦN KINH CỦA RỐI LOẠN NÀY.

đăng 19:27, 15 thg 1, 2015 bởi Giang Phan   [ đã cập nhật 19:38, 15 thg 1, 2015 ]

Rối loạn học tập chuyên biệt là một rối loạn phát triển thần kinh có căn nguyên sinh học (Biological origin), nền tảng của các bất thường nằm ở mức nhận thức (về chữ, số…) và kèm theo các dấu hiệu về hành vi (Behavioral signs) như thực hiện việc đọc, viết, tính toán. Căn nguyên sinh học gồm có sự tác động qua lại giữa các yếu tố di truyền và môi trường làm ảnh hưởng đến khả năng cảm nhận hay xử lý thông tin bằng lời nói hay không lời nói của não bộ một cách có hiệu quả và chính xác...Xem tiếp 

THEO DÕI BẰNG MRI CHỨC NĂNG (fMRI) VỀ VIỆC GIẢM BỚT HÀNH VI LẬP LẠI Ở NGƯỜI TỰ KỶ

đăng 22:09, 2 thg 6, 2014 bởi Giang Phan

Tự kỷ được đặc trưng bởi sự hoạt hoá bất thường của não trán trước trong khi kiểm soát nhận thức. Trong nghiên cứu này, hình ảnh cộng hưởng từ chức năng ( fMRI) được sử dụng để xem xét hoạt động của não trong khi thực hiện nhiệm vụ khó khăn ở 2 người nam bị tự kỷ có chức năng cao trước và sau 12 tuần được điều trị bằng Citalopram là một loại thuốc ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc ( SSRI). Một người cho thấy có giảm đi hành vi lập lại rõ ràng và người khác thì lại có biểu hiện hơi xấu hơn. Hoạt hoá não tương ứng với vùng trán trước chỉ xảy ra ở người có biểu hiện cải thiện những triệu chứng hành vi lập đi lập lại. Những phát hiện này gợi ý rằng hình ảnh cộng hưởng từ chức năng ( fMRI) có thể làm sáng tỏ những cơ chế hoạt động có  tiềm năng đối với những can thiệp có mục tiêu cho rối loạn tự kỷ.

Theo Docguide.com

RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ : TỪ PHÁT HIỆN SỚM ĐẾN CAN THIỆP, CẬP NHẬT DSM-5 (2013)

đăng 21:17, 22 thg 3, 2014 bởi Giang Phan   [ đã cập nhật 21:17, 22 thg 3, 2014 ]

Tự kỷ ngày càng gia tng trên thế giới, ở ti Việt Nam thuật ngữ “ tự k” ngày càng được nhiều người biếđến hn, đặc biệt là các  phụ huynh hay các nhà chuyên môn làm việc với trẻ em. Trong những nm vào thập niên 1990, chúng tôi cng đã nghe và đọđược những tài liệu ca một số chuyên gia nước ngoài đến từ Thy Sĩ và Pháp nói về tự k, có một số tài liệu dùng những thuật ngữ khác nhau nh: tự bế, tự to. Những nghiên cứu về dch tễ hc gầđây ghi nhận một sự gia tng về số lượng các cá nhân được xác định có rối lon tự kỷ trong thập niên vừa qua (Tidmarsh & Volkmar). Những nghiên cứu trướđây gợý rằng tự kỷ cổ điển là một rối lon tương đối hiếm gặp: từ 4-6/10.000 hoặc khong 1/ 2.000, theo Lotter , 1967), những phát hiện gầđây hn cho thấy khi chúng ta nhìn tự kỷ dưới góc độ “ một phổ ca các rối lon” bao gồm những trẻ ở mứđộ nhẹ nhất ca phổ (ví dụ nh: rối lon Asperger và rối lon phát triển lan to- không biệđịnh) , khi nhìn dưới góc độnày thì tự kỷ có tỷ lệ lu hành (Prevalent) nhiều hn so với suy nghĩ trướđây (60/10.000 hoặc xấp xỉ 1/160; Chakrabarti & Fombonne,2001; Fombone,1999; 2003a; 2003b). Xem tiếp ...Rối loạn phổ tự kỷ từ phát hiện sớm đến can thiệp, cập nhật tiêu chí chẩn đoán theo DSM-5

Nhân cách và các rối loạn nhân cách

đăng 20:33, 22 thg 3, 2014 bởi Giang Phan

Hàng ngày trong công việc, bác sĩ hay các nhà trị liệu gặp nhiều bệnh nhân có nhân cách bất thường. Những người làm lâm sàng cần hiểu được những kiểu nhân cách này vì 4 lý do. Đầu tiên, bệnh nhân có thể phản ứng với những cách thức khác thường đối với bệnh lý thể chất hoặc những điều trị được đặt ra đối với họ ví dụ như trở nên quá mức dựa vào , không tin cậy hay không hợp tác.  Thứ hai, khi nhân cách bất thường, bức tranh lâm sàng về rối loạn sức khoẻ tâm thần thay đổi, làm cho chẩn đoán trở nên khó khăn hơn. Thứ ba, những nhân cách bất thường có thể phản ứng một cách khác nhau đối với các sự kiện gây stress, ví dụ như thay vì lo lắng thì họ biểu hiện hành vi gây hấn hay kịch tính. Xem tiếp...Nhân cách và các rối loạn nhân cách 

Não bộ được tổ chức như thế nào cho việc học ngôn ngữ

đăng 03:33, 3 thg 6, 2012 bởi Giang Phan

TƯƠNG TÁC GIỮA BẢN CHẤT TỰ NHIÊN VÀ NUÔI DƯỠNG

 

Não của trẻ em được lập trình sẵn về mặt di truyền với các quá trình cần thiết cho việc học tập và đặc biệt là học tập ngôn ngữ. Những khả năng được lập trình sẵn này tương tác với kích thích thu được từ môi trường mà trẻ học được từ nền văn hoá và hệ thống ngôn ngữ mà trẻ sống ở trong môi trường đó. Cùng thời điểm đó, những trải nghiệm độc nhất của cá thể trẻ bổ sung thêm cho việc thực hành chức năng của não. Xem tiếp... 

Sự khác nhau giữa thuật ngữ chậm phát triển và chậm phát triển tâm thần

đăng 08:07, 27 thg 5, 2012 bởi Giang Phan

Thuật ngữ chậm phát triển (Developmental Delay) thường được dùng một cách không thích hợp đồng nghĩa với chậm phát triển tâm thần ( Mental Retardation) . Chậm phát triển là một thuật ngữ có tính bao gồm một cách quá mức và được sử dụng đối với trẻ nhũ nhi và trẻ nhỏ hơn 5 tuổi  khi mà chẩn đoán ở tuổi này không rõ ràng, vì những trẻ này ở tuổi quá nhỏ đối với việc đánh giá chính thức.

Các vùng não hoạt động như thế nào khi chơi game?

đăng 21:52, 1 thg 12, 2011 bởi Giang Phan   [ đã cập nhật 21:54, 1 thg 12, 2011 ]

   

Nghiện trò chơi video đang là vấn đề được nhiều người quan tâm, ở Việt Nam gần đây có nhiều cha mẹ than phiền rằng con mình chơi trò chơi video hay game online quá nhiều và ảnh hưởng đến học tập cũng như các mối quan hệ xã hội. Ở các quốc gia khác cũng có nhiều nghiên cứu về vấn đề này. Đây thực sự là vấn đề còn mới mẻ trong lãnh vực tâm lý và tâm bệnh lý...Xem tiếp 


Các vấn đề tâm lý và sức khoẻ tâm thần trên người nhiễm HIV/AIDS và bệnh mãn tính

đăng 21:20, 1 thg 12, 2011 bởi Giang Phan   [ đã cập nhật 21:23, 1 thg 12, 2011 ]

  STRESS CẤP TÍNH

 -Là phản ứng bất thường đối với những sự kiện gây stress bất ngờ như bị tai nạn, cháy, mất đi người thân yêu đột ngột, chia tay một mối quan hệ thân thiết, bị tấn công cơ thể hay bị lạm dụng tình dục, phải tiếp nhận một thông tin về bệnh lý không thể chữa được như HIV/AIDS, ung thư… một cách đột ngột…

-Đáp ứng cảm xúc nặng nề hơn so với stress bình thường, có thể có biểu hiện hoảng loạn hay lo âu lan toả......Xem tiếp  

1-10 of 86